Cuốn sách tiên tri

Cuốn sách tiên tri

cuon-sach-tien-tri-mua-sach-hay

“Trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời này, một Erika Swyler đầy tài hoa  đã xuyên suốt qua nhiều thế hệ và nhiều thế kỷ, dịch chuyển một cách khéo léo và dệt các mạch truyện thành một tấm thảm tuyệt đẹp. Tôi ngay tức khắc hòa mình vào trong câu chuyện gia đình đầy thủ đoạn và bất hòa. Văn chương của Swyler hoa mỹ và thanh tao tới mức vô cùng dễ hiểu, tỏa sáng hệt như giọng nói đặc biệt của bà – cách miêu tả của bà về biển và vẻ hung hãn của nó có thể sánh ngang với Annie Proulx trong tác phẩm Shipping News. Tôi thực sự yêu thích cuốn sách này và đã ngấu nghiến đọc một mạch từ đầu đến cuối”

 – Trích lời Sara Gruen, tác giả cuốn Water for Elephants; At the Water’s Edge –

 

*
*

. Cuốn sách tiên tri . . – . | .

Hầu Chuyện Thượng Đế

Hầu Chuyện Thượng Đế

Nói lão Khoa “Hầu chuyện Thượng Đế”, nghe cứ rợn cả người. Có phải ai cũng hầu Ngài được đâu. Muốn cắp tráp theo Ngài thì chí ít cũng phải là ông Tiên, bà Tiên, hay các bậc tu hành đã đắc đạo. Đằng này, lão lại là người trần mắt thịt, tướng mạo xấu xí, mồm phồng mũi tẹt, tóc tai bờm xờm. Người đâu mà cứ tròn ùng ục như cái bình vôi. Bạn đọc dễ tính nhất cũng đâm ra nghi ngờ: “Không khéo cái lão già này say rượu rồi, ăn nói linh tinh quá. Thượng Đế là đấng Tối thượng, đấng Thần linh, đâu có thể đem ra cớt nhả, sàm sỡ. Mà cứ nói càn, nói nhảm, không khéo Ngài vật chết! ”.

Nhưng mà không. Các Thượng Đế mà lão cắp tráp theo hầu, lại không phải Thần linh. Các Ngài không nương náu trên những cõi bồng lai, tối thẳm, hay chốn bí hiểm xa mù nào, mà ngự ngay trong cõi người đầy bụi bặm, trầm luân này. Đấy là những bạn đọc khả kính của Tạp chí “Văn học và tuổi trẻ”, “Toán tuổi thơ”…

Những tờ Tạp chí này dành riêng cho giới học đường, mà cụ thể hơn, là những bạn đọc ở lứa tuổi học sinh phổ thông. Các bài trong tập này rút ra từ chuyên mục “Hầu chuyện Thượng Đế” trong Tạp chí đó đấy. Có bài lão Khoa sửa chữa, thêm bớt tí chút, cho phù hợp với việc chuyển bài từ Tạp chí sang sách, hai dạng xuất bản có yêu cầu khác nhau, cũng là lẽ thường thôi. Một số bài không đề số Tạp chí và thời gian xuất bản ở cuối bài, vì tác giả sơ ý không ghi ngay sau đó, giờ chưa có điều kiện truy tìm để biết rõ là đã in vào số nào… Cũng có bài, do khuôn khổ của trang sách cho phép, tác giả có nới rộng dung lượng ra đôi chút để làm cho điều muốn giãi bày được trọn vẹn hơn…

hau-chuyen-thuong-de-mua-sach-hay
“Hầu chuyện Thượng Đế” không phải là sân khấu riêng của lão già Trần Đăng Khoa, để lão nói một mình, hay vừa ôm đàn vừa hát. Đây là cái sân chung, giành cho các Thượng đế gặp mặt giãi bày những vấn đề, những câu chuyện mà các Vị quan tâm.

Lão già này chỉ là kẻ điếu đóm, hầu chuyện. Hay nói cách khác, lão là kẻ rải chiếu mời “các cụ” đến ngự rồi bàn chuyện, như mẹ Đốp, bố Đốp ngày xưa! Chuyện gì hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu của “các cụ”.

Mà “các cụ” này đặc biệt lắm, không già cả, điếc lác như các thầy đề, thầy xã ngày trước. Có mấy cụ đã có tuổi, nhưng lại là các thầy, các cô giáo, hoặc những bạn đọc cần mẫn của Tạp chí Văn tuổi thơ. Các thầy cô thường quan đến những vấn đề lớn. Vì vậy, tập sách này mới có một số bài để hầu chuyện các thầy cô và các bạn đọc cao niên đáng kính nữa đấy. Còn hầu hết là các cụ trẻ. Mà trẻ lắm. Có “cụ” mới lẫm chẫm bước chân đến trường phổ thông với tâm hồn trong veo và trái tim tươi nõn! “Các cụ” còn gọi lão già này bằng anh, bằng chú, bằng bác, bằng lão. Thế lão mới sướng chứ!

“Hầu chuyện Thượng Đế” in lần đầu 2000 bản. Lần tái bản này, lão có bổ sung ba bài đã đăng Văn học và Tuổi trẻ, Toán tuổi thơ, nhân đó sắp xếp thứ tự các bài thành từng cụm đề tài, để các VỊ dễ theo dõi hơn. Một số nhà văn nhà thơ có tên trong tập này, chủ yếu là có trong sách giáo khoa. Nhưng một số nhà thơ nhà văn rất nổi tiếng khác có trong sách giáo khoa mà không có trong tập này, vì lão Khoa không nhận được câu hỏi gửi đến của các vị Thượng Đế để lão có cớ mà hầu chuyện. Có thể là lần sau chăng? Đơn giản chỉ có vậy.

Nào, bây giờ, chiếu lão đã rải ra rồi! Xin mời các “Thượng Đế” xuống ngự và cho lời “chỉ giáo”. Xin cứ tha hồ cật vấn! Nếu điều gì lão biết, lão sẽ thưa thốt. Còn không thì lão cũng xin “dựa cột” để nghe.

Lão đang ngỏng tai nghe các Thượng Đế đây! Vâng, xin được bắt đầu…

*
*

. Hầu Chuyện Thượng Đế . . – . | .

Hãy Sống Cuộc Đời Như Bạn Muốn – Tái bản 2018

Hãy Sống Cuộc Đời Như Bạn Muốn – Tái bản 2018

Chúng ta luôn luôn đặt ra cho bản thân câu hỏi rằng, làm thế nào để sống một cuộc sống như chúng ta mơ ước? Mà quên mất một thực tế rằng dù đau đáu về một cuộc sống như thế nhưng chúng ta vẫn đang quẩn quanh với những lịch trình hàng ngày, những việc làm nhàm chán đến mức gần như làm tê liệt ý chí vùng vẫy thoát ra khỏi nó. Chúng ta muốn sống khác nhưng vẫn dành quá nhiều thời gian xem tivi mỗi ngày, sa đà vào những bữa tiệc vui chơi quên ngày tháng, vẫn chấp nhận gắn bó với công việc mà mình không yêu thích, v.v… Vâng, để có một cuộc sống như mơ ước, việc bạn chỉ khao khát, thèm muốn và làm một vài hành động đơn lẻ thôi không đủ, bởi để sống khác cần đến sự tổng hòa của rất nhiều yếu tố.

hay-song-cuoc-doi-nhu-ban-muon-mua-sach-hay
Hãy sống cuộc đời như bạn muốn, cuốn sách của tác giả Pam Grout sẽ hướng dẫn bạn cách thay đổi thái độ, nắm bắt ý tưởng, và phát triển năng lực tiềm ẩn của bản thân để đạt đến tiềm năng thành công. Bằng cách nghĩ lớn, mơ lớn và đặt ra các câu hỏi lớn, mỗi người chúng ta chắc chắn sẽ tạo sự khác biệt trong cuộc sống của bản thân và những người xung quanh.

Hãy sống cuộc đời như bạn muốn sẽ cung cấp cho bạn rất nhiều thông tin đầy đủ và hoàn chỉnh từ những nguyên tắc để sống vĩ đại, những ví dụ điển hình về những con người sống vĩ đại rất gần gũi với chúng ta, từ những cô bé cậu bé tật nguyền, người tù binh trên chiến trường Việt Nam hay Mozart và Picasso. Mỗi chương sách đều dành những câu hỏi và bài tập thực tế để độc giả có thể thực hành áp dụng nó vào chính cuộc sống của mỗi người!

*
*

. Hãy Sống Cuộc Đời Như Bạn Muốn – Tái bản 2018 . . – . | .

Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn

Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn

Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn (Commissioned Patterned Porcelains In The Nguyễn Era)

Thuật ngữ đồ sứ ký kiểu được dùng để chỉ những đồ sứ do người Việt Nam, gồm cả vua, quan và thường dân đặt làm tại các lò gốm sứ Trung Hoa trong khoảng thời gian từ nửa sau thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, với những yêu cầu riêng về kiểu dáng, màu sắc, hoa văn trang trí, thơ văn minh họa, hiệu đề. Tùy theo niên đại ký kiểu đồ sứ mà thuật ngữ này có thêm các định ngữ chỉ thời gian đi kèm như:
do-su-ky-kieu-trieu-nguyen-mua-sach-hay

  • Đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh: chỉ những đồ sứ do Trung Hoa làm theo yêu cầu và mẫu mã do triều đình Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài đặt làm từ nửa sau thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII.
  • Đồ sứ ký kiểu thời chúa Nguyễn: chỉ những đồ sứ do Trung Hoa làm theo yêu cầu và mẫu mã do các vị chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tiêu biểu là chúa Nguyễn Phúc Chu, đặt làm từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII.
  • Đồ sứ ký kiểu thời Tây Sơn: chỉ những đồ sứ được đề thơ Nôm được đặt làm cuối thế kỷ XVIII.
  • Đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn: chỉ những đồ sứ do người Việt đặt hàng từ 1804 đến 1925 dưới các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Khải Định.

*
*

. Đồ Sứ Ký Kiểu Thời Nguyễn . . – . | .

NGHỆ THUẬT LẤY LÒNG KHÁCH HÀNG – Tái bản 2018

NGHỆ THUẬT LẤY LÒNG KHÁCH HÀNG – Tái bản 2018

Nếu bạn muốn chiến thắng trong kinh doanh, cuốn sách này sẽ dẫn đường cho bạn

Michael J. Maher là một trong những nhà môi giới bất động sản chuyên nghiệp ở Bắc Mỹ, ông là người sáng lập ra Thế hệ hào phóng và là tác giả của cuốn sách “Nghệ thuật lấy lòng khách hàng”.  Hiện tại ông đang sở hữu một trong những công ty bất động sản hàng đầu tại thành phố Kansas (Leawood, KS, USA). Chỉ mới ba năm tham gia vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản, ông đã đạt được mức doanh thu hơn một triệu đô-la/ năm. Mỗi năm ông và nhóm của ông nhận được hơn 500 nguồn giới thiệu và trên 200 giao dịch mà không cần bất cứ dịch vụ quảng cáo hay truyền thông nào. “Nghệ thuật lấy lòng khách hàng” là một ấn bản đặc biệt của ông đã được phát hành ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nó được bình chọn là một trong những cuốn sách bán chạy nhất trong năm của Amazone.
nghe thuat lay long kh
Khả năng xây dựng các mối quan hệ là xương sống của một doanh nghiệp thành công. Các cuộc gọi điện, những cái bắt tay, những buổi hẹn ăn trưa hay những cuộc trò chuyện – đó đều là những hình thức để thực hiện các hoạt động hợp tác, với cuốn sách này bạn hoàn toàn có thể làm được điều đó. Nếu bạn muốn thành công trong lĩnh vực kinh doanh, bạn cần phải biết giành chiến thắng về con người và cuốn sách này sẽ hướng dẫn bạn.


“”Nghệ thuật lấy lòng khách hàng” của Michael Maher là cuốn sách mà những người làm kinh doanh bất động sản chuyên nghiệp không nên bỏ qua. Cuốn sách sẽ giúp bạn đạt được sự thành công trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản mà không cần bất cứ dịch vụ quảng cáo hay truyền thông nào, cách đơn giản mà bạn cần làm với cuốn sách này đó là giao tiếp, giới thiệu, gửi email…”

Danielle Kennedy, nhà đào tạo kỹ năng kinh doanh bất động sản, tác giả của cuốn sách “Làm thế nào để niêm yết và bán bất động sản – chinh phục mọi nẻo đường của thị trường”.

*
*

. NGHỆ THUẬT LẤY LÒNG KHÁCH HÀNG – Tái bản 2018 . . – . | .

QUAN VÀ LẠI Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

QUAN VÀ LẠI Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

Từ ba thập niên trở lại đây, nếu như xã hội học lịch sử về các nền văn minh Đông Á đạt được tiến bộ đáng kể, thì chủ yếu là trong việc nghiên cứu các tầng lớp bình dân hay tầng lớp tư sản lớn thời hiện đại. Ngược lại, tầng lớp thượng lưu xưa, những giai cấp hay thành phần xã hội thống trị, vẫn còn nằm quá lâu trong bóng tối, bắt đầu từ các quan chức cao cấp của các nước thuộc văn minh Trung Hoa, chưa bao giờ trở thành đối tượng nghiên cứu có qui mô lớn, kể từ những nghiên cứu của Ch’ü T’ung-tsu (Cù Đồng Tổ), Étienne Balazs và Robert Hartwell, cho đến những khảo cứu gần đây của Pierre-Étienne Will, Paul Smith và Christian Lamouroux, nếu không kể đến các công trình Trung Hoa và Nhật Bản.

Về chế độ quan trường nhà nước ở Đông Nam Á, cụ thể là ở Việt Nam xưa, hiểu biết của chúng ta đặc biệt hãy còn khiêm tốn. Bằng chứng là những hình ảnh tập thể ngày nay vẫn luôn chịu ảnh hưởng của cách đọc và những định đề thừa kế của nền sử học thuộc địa và các nhà truyền giáo, cũng như nền sử học mang đậm tính dân tộc chủ nghĩa của Việt Nam thế kỷ XX. Những nhận định này, trừ một vài biệt lệ đáng kể và sự khác biệt của một số người khởi xướng trong các thế kỷ XVIII và XIX, còn thì thường được diễn giải, thậm chí là áp đặt, theo mô hình khuôn mẫu của một nền quan lại thối nát và bất lực, trì trệ và xơ cứng, tê liệt trong bảo thủ, cứng nhắc và cổ lỗ. Nói chung, những cuộc điều tra về truyền thống hành chính Viễn Đông chỉ bó hẹp, ít ra là đến thời gian gần đây, trong các quan lại chính thức, và nhiều khi chỉ là mô tả thiết chế của cách thức đào tạo và tuyển dụng – bằng con đường thi cử hay bằng xuy cử – cũng như sự vận hành của bộ máy hành chính mà bản thân nó khá phức tạp. Kết quả của những nghiên cứu hiện có là đáng kể. Nhưng nói thật ra, những công trình nghiên cứu trong tay ta, có ý định khoanh lại diện mạo xã hội học của chế độ hành chính xưa và nay, trong hai lĩnh vực dân sự và quân sự, vẫn còn ít, và hơn nữa, trong trường hợp Việt Nam, thường bỏ qua tầm vóc hiện đại, thực tế hơn người ta vẫn nói. Còn những công trình tìm cách đi sâu vào cơ chế vận hành giữa bộ máy hành chính và các thành phần xã hội mà nó cai trị, đặc biệt là những thuộc viên đảm nhiệm công việc thường ngày, “hệ thống lại viên” mà công trình này nhắc đến, thì lại càng hiếm hơn. Đấy là chưa nói đến khía cạnh địa lý lịch sử của nền hành chính vẫn còn ít được biết đến, chí ít thì cũng chưa có gì chắc chắn.

Đấy là những chủ đề cơ bản của cuốn sách tiên phong này. Nó đề cập trong bối cảnh xứ Bắc Kỳ, khi kết thúc nền độc lập của Đại Nam (tên gọi thời đó của nước Việt Nam ngày nay), và trong bốn thập niên đầu của nền bảo hộ Pháp, giai đoạn bản lề trong đó công thức chính trị của chế độ thuộc địa ở Đông Dương đang được tìm kiếm và hoàn thành việc chuyển từ “chế độ quan lại thời chinh phục” sang một “chế độ quan lại thời quản lý”. Những đóng góp của công trình này là khá mới mẻ. Trước hết là sự phong phú của tư liệu đầu tay, bằng chữ Hán, chữ Việt hay chữ Pháp, đã được khai thác kiên nhẫn, tập hợp và xử lý ở đây. Đặc biệt đấy là những phông riêng của kinh lược Bắc Kỳ và phông của thống sứ Bắc Kỳ được bảo quản tại Lưu trữ Quốc gia Hà Nội, mà những hồ sơ hành trạng đã cung cấp nhiều yếu tố phong phú cho công trình lịch sử đầu tiên mang tính xã hội học về chế độ quan lại Bắc Việt Nam đầu thế kỷ 20 này. Dưới ánh sáng nguồn tư liệu của triều đình và những công trình gần đây của các nhà sử học Việt Nam, hai chương đầu cuốn sách dựa vào việc nghiên cứu cực kỳ chính xác tính phức tạp của cấu trúc hành chính xưa, về cách thức đào tạo và tập sự, về thể thức chi trả lương bổng và thang bậc thăng tiến, về nền văn hoá riêng biệt và truyền thống triều đình trong việc cải tổ thường xuyên dưới các triều Lê và Nguyễn.
quan-va-lai-o-mien-bac-viet-nam-mua-sach-hay
Điều thứ hai cần nhấn mạnh là tính độc đáo của cách tiếp cận vấn đề và phương pháp đã được vận dụng trong nghiên cứu này. Càng đọc, ta càng có những phát hiện đáng ngạc nhiên. Nếu như vấn đề các quan triều đình ít có gốc gác tại địa phương thường được làm sáng tỏ, thì sự tồn tại lâu dài của những làng và tỉnh sản sinh ra các quan (bốn tỉnh Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh và Hải Dương), việc tuyển dụng rất tập trung, cụ thể là ở năm huyện ngoại vi của kinh thành, cả một nền địa dư, tuy cổ xưa nhưng vẫn được duy trì hơn bao giờ hết dưới thời thuộc địa, từ gốc gác những người đỗ đạt và những dòng họ làm quan, cũng như lại viên các văn phòng, là bấy nhiêu điều phát hiện. Dưới thời thuộc Pháp, xu hướng “Bắc Hà hoá” tuyển dụng đã được khẳng định, ngược lại với thế kỷ trước. Không kém phần mới mẻ là việc xét lại một cách lành mạnh về mặt lịch sử cách nhìn đối với hiện tượng quan trường Việt Nam, về tính hai mặt trong sự dung hợp với chế độ thuộc địa và tương lai lịch sử của quan trường, mà cuốn sách đã vượt ra khỏi lối mòn mạnh hơn ta tưởng, đã buộc phải bắt đầu từ việc khai thác tỉ mỉ hàng loạt hồ sơ hành trạng của các quan lại Bắc Kỳ trong giai đoạn được nói đến.

Thật vậy, đâu là số phận của hệ thống quan lại, khi nó phải đối mặt với vấn đề lịch sử mới do chế độ thuộc địa thiết lập? Ở đây chỉ nêu lên vài câu trả lời mà Emmanuel Poisson đã giải đáp câu hỏi đó. Thứ nhất là sức sống liên tục, tính năng động, của hiện tượng quan trường từ chế độ này sang chế độ khác. Vì hệ thống quan lại châu Á không có nghĩa là nặng nề, đè nén lên xã hội. Nó không phải hay không giống nền hành chính Sa hoàng nước Nga với thế giới nhỏ hẹp của các quan thanh tra mà Gogol thích miêu tả, thường bị giới trí thức Nga thế kỷ XIX lên án. Ở Việt Nam bộ máy hành chính của triều đình tương đối nhẹ hơn (dù cho nó có dày đặc hơn Trung Quốc), dưới thời đô hộ Pháp nó vẫn như vậy, ít ra là đến những năm 1920. Cách thức tuyển dụng quan lại, việc bắt buộc phải trải qua “các lò rèn đúc nhân tài” của các trường học chữ Hán rất sống động và có tiếng, kể cả những trường ở một số làng, ở đó các thầy truyền đạt cho học trò những công thức lập luận không thể xoá mờ, vẫn không thay đổi cho đến kỳ thi hương cuối cùng tại Nam Định vào năm 1918. Hậu quả là, giống như những người tiền nhiệm, các quan của nhà nước bảo hộ Bắc Kỳ gồm hơn hai phần ba là người đỗ đạt qua các kỳ thi khó khăn đó, và họ không bị cắt rời khỏi thực tế như người ta nói. Công trình này còn nêu rõ tính liên tục của sách lược cá nhân và dòng họ để đi vào hoạn lộ, cũng như sức mạnh của hệ thống thuộc lại bên trong bộ máy quan trường. Từ đấy có thể thấy là nhầm lẫn, hình ảnh “viên thông ngôn tầm thường” hay “kẻ đao bút” được bổ làm quan lớn do đã có “lòng tận tuỵ” với kẻ thống trị ngoại bang, hình ảnh này thường được các nhà báo thuộc địa cũng như phần lớn các tác giả chống thực dân phổ biến một cách dễ dãi. Trong giới quan trường đầu thế kỷ XX, những thuộc viên đắc lực của cuộc xâm lược, những chuyên gia đàn áp, trên thực tế rõ ràng chiếm số ít. Những người ra làm quan theo con đường cổ điển chiếm đa số. Giới quan lại cao cấp đã trở thành đối tác không thể bỏ qua của nền Bảo hộ, ít nhất nhờ kinh nghiệm và “hiểu biết công việc”, theo cách nói xác đáng mà tác giả lấy lại của Max Weber.

Hiệu năng của bộ máy quan lại không hề giảm sút, nó còn được cải thiện bằng việc cấy ghép thêm những truyền thống và khoa học hành chính Pháp. Dù không chống lại chế độ thuộc địa, giới quan trường Việt Nam không chỉ là những kẻ bù nhìn tham nhũng. Về mặt xã hội và cách ứng xử công việc, họ thường có một kinh nghiêm thực hành lâu dài, đa dạng và cụ thể, tích luỹ trong quá trình thăng tiến qua các bậc thang hành chính. Ngoài ra, các công sứ Pháp rất chú trọng việc duy trì một mối quan hệ có tính hợp tác với quan chức Việt Nam trong chừng mực có thể. Giữa hai bên không thiếu gì mâu thuẫn, nhưng Nhà nước bảo hộ buộc phải luồn lách một cách thực dụng vào cấu trúc quan lại Việt Nam, đồng thời tìm cách hợp lý hoá và hiện đại hoá nó, cụ thể bằng việc thành lập trường Hậu bổ năm 1897, cũng như ở miền Thượng du thì dựa vào các thủ lĩnh dân tộc và các dòng họ lớn người Tày người Thái. Người Pháp không thể cai trị chống lại tầng lớp thượng lưu thuộc địa, như các viên chức cao cấp sáng suốt đã nhìn thấy, từ Jean-Louis de Lanessan đến Albert Sarraut, và trên quan điểm đó, vị trí lịch sử của chế độ quan lại không thể nào không gợi đến cái mà sau này ở Pháp người ta gọi là “sự hợp tác”. Nhưng tầng lớp quan lại ưu tú đã không bị chế độ thuộc địa biến thành kẻ thừa hành làm công việc kỹ thuật, bị công cụ hoá và dễ vâng lời, tuy họ vẫn chấp nhận chế độ đó, cụ thể là chế độ thuế khoá nặng nề, vì nhờ vậy họ đạt được tự chủ với triều đình Huế. Đấy là hai chiều kích của vị trí lịch sử mới của quan lại, vừa không thể tách rời vừa mâu thuẫn nhau, và chính trong sự căng thẳng thường xuyên đó mà quyền lực thuộc địa được vận hành.

Trong giai đoạn đầu đó của kỷ nguyên thuộc địa, quan lại trở thành người trọng tài, tất nhiên không phải là vô tư, của vô số vụ xung đột quyền lợi địa phương, là người điều chỉnh gắn bó với cuộc sống nông thôn. Họ thường xuyên tỏ ra có đầu óc cách tân, tìm cách hiện đại hoá công việc xã hội và các phong tục, khai thác có lợi cho xã hội thuộc địa chức năng hiện đại hoá có chọn lọc và có giới hạn mà chế độ thuộc địa không thể từ bỏ vì lợi ích của nó. Một số lớn quan lại đã tham gia một cách thận trọng vào các hoạt động cải lương dân tộc đầu thế kỷ, điều đó dù sao cũng phù hợp với văn hoá về trách nhiệm đối với việc công và với cải cách từ bên trên mà các quan đã chia sẻ ít nhiều từ lâu. Quả thật đã có một xu hướng cải cách quan trường, đôi khi gắn với phong trào dân tộc cách tân của những năm 1905-1914, vì vậy chính quyền Pháp không ngừng nghi ngờ các quan chơi trò hai mặt. Thực tế là cải cách hành chính thuộc địa đã kết hợp với cuộc cải cách của triều đình sẵn có từ trước. Cụ thể là cho đến sau Thế chiến thứ nhất, chưa bao giờ sự kết hợp giữa tầng lớp quan chức ưu tú và các tầng lớp xã hội bị gián đoạn thực sự. Cuối cùng, Emmanuel Poisson đã đem lại sự soi sáng mới về tầm quan trọng chưa được biết đến của quyền lực không chính thức trong tay các thuộc lại, những “con người phải luồn lách”, của hạ tầng bộ máy hành chính và những quan hệ phức tạp, bắt rễ sâu vào nền tảng địa phương. Vai trò của nó, chia sẻ với quan cấp dưới là các “quan phủ” và “quan huyện”, có tính quyết định trong việc thực thi hữu hiệu và đa dạng của nhà nước thuộc địa để quản lý hàng ngày 10 nghìn làng của Bắc Kỳ, như vị trí lịch sử mang tính chiến lược của nó, nằm ở bản lề giữa làng xã với quan chức hàng tỉnh, vào điểm giao nhau của quyền lực thuộc địa, quyền lực quan lại và kỳ hào làng xã, giữa lòng của sự quản lý thuộc địa đối với xã hội bị đô hộ, của cái mà ta có thể gọi là sự thoả hiệp lịch sử – một sự thoả hiệp đương nhiên không bình đẳng – của chế độ thuộc địa Đông Dương.

Điều mà công trình nghiên cứu này gợi lên mạnh mẽ, rốt cùng là tính tự trị vững chắc của các xã hội Đông Á ở buổi đầu thế kỷ XX và trước đó nữa, cũng như việc các hệ thống quan lại – ngay cả trong thời đại hiện đại hoá tương đối của chế độ thuộc địa (mà có lẽ người ta không nên đánh giá thấp) – có khả năng tiếp nhận những đòi hỏi, những áp lực, những mưu toan ở mức vi mô, vô vàn lợi ích và sự giằng xé của những xã hội nông dân vẫn sống động và nói chung, những xã hội dân sự theo kiểu cũ. Những người đứng đầu nhà nước – kể cả nhà nước thuộc địa – thường xuyên chạy theo hai nguy cơ nhìn thấy xã hội bị tuột khỏi tay mình hay bị vô hiệu hoá từ bên trong công cụ chỉ đạo, và vận hành trống không như trong trường hợp khủng hoảng nặng nề vào thời Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX, hay muộn hơn vào năm 1930-1931 và năm 1944-1945. Các nhà nước nhìn bề ngoài có vẻ như chuyên chế, nhưng lại như là bị cầm tù, nhiều khi kiệt sức vì phải huy động các xã hội ít được thể chế hoá, luồn lách, phản ứng hay chống lại một cách thụ động. Mặc cho sức mạnh và tính duy lý cao, nhà nước thuộc địa cũng bị cầm tù trong các màng lưới của chế độ quan lại và thuộc lại, nơi tiết ra áp lực của nông thôn. Đương nhiên không nên quan trọng hoá tầm vóc của sự lệ thuộc tiềm ẩn đó: nhà nước thuộc địa vẫn làm chủ sự điều hành lịch sử và việc quyết định đường lối cũng như không ngừng can thiệp vào sự phát triển của xã hội, đặt áp lực lên nó. Tuy không nắm giữ tất cả quyền lực, các quan vẫn là những người cung cấp tin không thể thiếu của nhà nước đó, những người thừa hành hiểu biết, đôi khi là những cố vấn, thực chất và phần đông là những người phụ thuộc nhưng cùng quyết định.

Những nhà nước đó không nên được xem như là ngưng trệ mà là tự cải cách, với hai trách nhiệm hữu cơ – tất nhiên nó đảm đương với thành công ít hay nhiều tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử – là hiện đại hoá xã hội và hiện đại hoá công việc hành chính, cả hai cái đều không thể tách rời. Cuốn sách này cho thấy sự lo toan của chính quyền để hoàn thiện không ngừng khả năng huy động xã hội bên dưới, không phải chỉ bắt đầu dưới thời thuộc địa. Cải cách hành chính là mối quan tâm thường xuyên đối với các vua Việt Nam trong thế kỷ XIX. Nó được chuyển sang cho các công chức Pháp của Nhà nước Bảo hộ, bản thân họ đã đến với sứ mệnh khai hoá, đặc biệt trong 20 năm đầu của thế kỷ XX, trong thời gian đó cải cách quan chế là đề tài nổi bật vì nó quyết định việc chế độ thực dân có nắm được hay không nền thuộc địa. Quả thật tại Đông Dương thuộc Pháp, vào hạ tuần của một biến động lịch sử chưa từng có, chế độ quan trường vẫn liên tục phát triển, đặc biệt trong cách thức cai trị xã hội. Nền thuộc địa rõ ràng đã thắng thế, nhưng để quản lý nó vẫn buộc phải uỷ quyền cho hệ thống quan lại. Nó cũng cần đến sự hợp tác với quan lại triều đình (ít nhất là đến những năm 1920), và điều đó không phải là theo một hướng duy nhất. Phải chăng chúng ta còn phải nhấn mạnh rằng sự vận hành kéo dài của quan trường trong hai khu vực bảo hộ của Đông Dương thuộc Pháp là Bắc Kỳ và Trung Kỳ, là trường hợp duy nhất ở Đông Á? Phải chăng đây là trường hợp quan trường lớn duy nhất ở châu Á đã được duy trì, dù cho xấu tốt thế nào chăng nữa, không chỉ ở chóp bu mà cả trong từng tế bào xã hội cho đến khi nó bị thủ tiêu hoàn toàn với sự tan rã của cuộc chiếm đóng Nhật Bản và của cách mạng năm 1945? Nó có được thay thế không? Chính ở những câu hỏi mạnh mẽ này mà cuốn sách quan trọng này được khép lại.

Daniel Hémery
Trích Lời tựa, “Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam” – Một bộ máy hành chính trước thử thách (1820-1918), Emmanuel Poisson

*
*

. QUAN VÀ LẠI Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM . . – . | .

Bộ Sách Giáo Dục Kỹ Năng Sống Đẹp (Bộ 5 Cuốn)

Bộ Sách Giáo Dục Kỹ Năng Sống Đẹp (Bộ 5 Cuốn)

Bộ Sách Giáo Dục Kỹ Năng Sống Đẹp (Bộ 5 Quyển)

1. Diapers Are Not Forever – Bỉm Ơi, Tạm Biệt!

2.Feet Are Not For Kicking – Chân Không Phải Để Đá Nhau

3. Pacifiers Are Not Forever – Ti Giả Ơi, Tạm Biệt!

4. Noses Are Not For Picking – Mũi Không Phải Để Ngoáy

5. Giáo Dục Kỹ Năng Sống Đẹp – Răng Không Phải Để Cắn Nhau Teeth Are Not For Biting

Trẻ mẫu giáo bắt đầu khám phá thế giới quanh chúng bằng cảm xúc và cả bằng cơ thể. “Bộ sách giáo dục kỹ năng sống đẹp” của tác giả Elizabeth Verdick ra đời nhằm hỗ trợ trẻ sớm có được các kỹ năng tốt trong cuộc sống thường ngày đồng thời giúp các phụ huynh hiểu hơn về giai đoạn này của trẻ, để giúp trẻ phát triển các kỹ năng mềm nhanh và tốt nhất.

bo-sach-giao-duc-ky-nang-song-dep-mua-sach-hay
“Bộ sách giáo dục kỹ năng sống đẹp” mang tới những nội dung gần gũi với trẻ em, như khi nào trẻ bỏ bỉm và dùng bô? Khi nào trẻ sẽ bỏ được người bạn ti giả thân thiết? Hay “chân không phải để đá nhau”, “răng không phải để cắn nhau” và “mũi cũng không phải để ngoáy” sẽ giúp trẻ hiểu rằng các bộ phận trên cơ thể đều có chức năng riêng của nó, và chúng hoàn toàn không dùng để làm đau người khác, hoặc tự làm đau mình.

Mỗi một cuốn sách trong Giáo dục kỹ năng sống đẹp đều có những mẹo hay ở phần cuối sách, giúp các phụ huynh có thêm những thông tin và cả kiến thức trong việc chăm sóc con trẻ.

Ngôn ngữ trong mỗi cuốn Giáo dục kỹ năng sống đẹp được chắt lọc kỹ lưỡng, và được chuyển nghĩa phù hợp, cố gắng giữ nguyên vần điệu, giúp trẻ hứng thú với việc đọc sách. Đồng thời, việc thiết kế song ngữ với những cấu trúc câu đơn giản, từ ngữ gần gũi dễ hiểu, dễ phát âm cũng là một trong những điểm nổi bật của bộ sách thú vị này.

*
*

. Bộ Sách Giáo Dục Kỹ Năng Sống Đẹp (Bộ 5 Cuốn) . . – . | .

Miền đất huyền ảo

Miền đất huyền ảo

mien-dat-huyen-ao-mua-sach-hay

” Nếu phải hiểu để mà có thể yêu thì lại phải yêu để mà có thể hiểu.

Cần phải yêu,một tình yêu đầy kính trọng và tất cả ưu tú như Dambo đã yêu đối với đất nước và con người Tây Nguyên để có thể hiểu nó một cách thấu đáo, đặng có thể xử lý những câu hỏi không thể dễ dàng đặt ra vừa bức bách vừa lâu dài, cơ bản là ở đây. Và để có một tình yêu lâu dài như vậy, thì lại phải chăm chú hiểu nó, mảnh đất và con người nơi này. trong tất cả các chiều sâu tinh tế của nó, như tác giả của cuốn sách này, một con người không phải là người Việt Nam mà đã bỏ gần cả ba mươi năm, và là những năm dồi dào sức lực, trí tuệ nhất, những năm quý giá nhất của đời mình để cố hiểu và yêu nó”

– Trích lời dịch giả Nguyên Ngọc –

*
*

. Miền đất huyền ảo . . – . | .

Những ngày cuối cùng của Hitler

Những ngày cuối cùng của Hitler

nhung-ngay-cuoi-cung-cua-hitler-mua-sach-hay

Sinh tại Glanton, Northumberland, Anh quốc. Là một sử gia uyên bác về lịch sử nước Anh cận đại và Đức Quốc Xã. Trevor – Roper là giáo sư tại Đại học Oxford do Hoàng gia Anh bổ nhiệm.

Năm 1979, ông được công nhận là Công khanh suốt đời qua đề bạt của nữ thủ tướng Anh Margaret Thatcher với danh hiệu Nam tước Dacre of Glanton. Trevor – Roper là một cây bút chiến lừng lẫy đồng thời là một nhà nghiên cứu lịch sử với những công trình có giá trị lớn lao đã tạo nên danh tiếng đáng tự hào cho ông: một học giả tên tuổi và uy tín.

Sách “Những ngày cuối cùng của Hitler” (1947) là cuốn sách được đón đọc rộng rãi nhất đồng thời là tác phẩm mang lại cho tác giả nhiều lợi nhuận nhất về tài chính.

*
*

. Những ngày cuối cùng của Hitler . . – . | .

Cuộc Dịch Chuyển Đại Dương Xanh

Cuộc Dịch Chuyển Đại Dương Xanh

MỘT TRONG NHỮNG CUỐN SÁCH CHIẾN LƯỢC CÓ TÍNH BIỂU TƯỢNG VÀ TẦM ẢNH HƯỞNG NHẤT TỪNG ĐƯỢC VIẾT RA, ĐỒNG THỜI LÀ MỘT TRONG NHỮNG TÁC PHẨM ĐÃ LÀM THAY ĐỔI NGÔN NGỮ KINH DOANH MÃI MÃI THÔNG QUA KHÁI NIỆM “ĐẠI DƯƠNG ĐỎ” VÀ “ĐẠI DƯƠNG XANH

“Cuộc dịch chuyển Đại dương Xanh” đầy ắp những ví dụ thực tiễn và hấp dẫn về việc các nhà lãnh đạo ở nhiều ngành nghề và tổ chức đã thực hiện cuộc dịch chuyển từ đại dương đỏ đông đúc nhuốm máu cạnh tranh sang những đại dương xanh mới mẻ bằng cách áp dụng quy trình và các công cụ được đưa ra trong cuốn sách như thế nào. Thông qua cuốn sách bạn sẽ biết được:

– TẠI SAO tập trung vào cạnh tranh sẽ khiến bạn bỏ lỡ những cơ hội tăng trưởng lớn và BẰNG CÁCH NÀO bạn có thể mở rộng tư duy của mình về chiến lược?

– TẠI SAO coi phá hủy một cách sáng tạo như là nguồn lực đổi mới lại có nhiều hạn chế và BẰNG CÁCH NÀO bạn có thể phát triển thông qua sáng tạo mà không phá vỡ?

– BẰNG CÁCH NÀO mà bất cứ ai trong mọi tổ chức đều có thể dịch chuyển từ đại dương đỏ sang đại dương xanh với quy trình 5 bước của Cuộc dịch chuyển Đại dương Xanh?

– TẠI SAO sự tự tin của mọi người lại rất cần thiết trong quá trình tạo ra và thực thi chiến lược tăng trưởng và BẰNG CÁCH NÀO chúng ta có thể tạo dựng được sự tự tin ấy?

– TẠI SAO bạn không nên đưa ra chiến lược phát triển dựa trên điều kiện ngành và môi trường sẵn có và BẰNG CÁCH NÀO bạn có thể hình thành nên chúng theo hướng có lợi cho bạn?

cuoc-dich-chuyen-dich-dai-duong-mua-sach-hay

LỜI NHẬN XÉT CỦA CHUYÊN GIA:

Kim và Mauborgne đã cho ra đời một cuốn sách “bom tấn” khác sau thành công vang dội của “Chiến lược Đại dương Xanh”. “Cuộc dịch chuyển Đại dương Xanh” được viết trên nền các nguyên tắc đột phá của tác phẩm trước đồng thời cung cấp một kế hoạch có hệ thống và thông minh nhằm giúp bất kỳ tổ chức nào thoát khỏi cuộc chiến cạnh tranh trên những thị trường sẵn có và tiến tới việc tạo lập những thị trường mới. Bạn không cần phải là doanh nhân mới có thể tận dụng được những phương pháp ấn tượng này mà chỉ cần sẵn sàng thách thức những giả định của ngành, đặt ra những câu hỏi mới mẻ nhưng đừng quên tính nhân văn trong suốt hành trình này.”


– DANIEL H. PINK – Tác giả New York Times bestseller, “Động lực chèo lái hành vi”
“Thách thức của bất kỳ doanh nghiệp nào đó là phát triển trong những thị trường quá đông đúc và cạnh tranh đồng thời phải phát triển sao cho thật thông minh, hiệu quả và nhân văn. Trong “Cuộc dịch chuyển Đại dương Xanh”, bạn sẽ tìm thấy tất cả những điều đó và hơn thế, khi Kim và Mauborgne hướng dẫn bạn trên hành trình khai thác những cơ hội tăng trưởng tiềm ẩn dù bạn mới khởi nghiệp, là một doanh nghiệp nhỏ hay công ty Fortune 500.”

– RAM CHARAN – CEO, Cố vấn Ban Giám đốc, tác giả New York Times bestseller, “Thực thi”.

*
*

. Cuộc Dịch Chuyển Đại Dương Xanh . . – . | .